Học nghe

Thuộc: 10 - Chưa thuộc: 20
At 7.20 pm on May 6th 1937, the world's largest airship, the Hindenburg,
Lúc 7 giờ 20 phút tối ngày 6-5-1937, chiếc khí cầu lớn nhất thế giới Hindenburg,
floated majestically over Lakehurst airport, New Jersey, after an uneventful crossing from Frankfurt, Germany.
đang bay oai vệ qua phi trường Lakehurst, New Jersey, sau một chuyến bay bình yên từ Frankfurt, Đức quốc.
There were 97 people on board for the first Atlantic crossing of the season.
Có 57 người trên khí cầu vượt Đại Tây Dương lần đầu tiên trong mùa.
There were a number of journalists waiting to greet it.
Có một số nhà báo đang chờ khí cầu đáp xuống.
Suddenly radio listeners heard the commentators screaming
Đột nhiên các thính giả truyền thanh nghe một bình luận viên la hoảng hốt
"Oh, my God! It's broken into flames.
"Ôi trời ơi! Khí cầu phụt cháy rồi.
It's flashing... flashing. It's flashing terribly. "
Nó lóe sáng... nó lóe sáng. Nó lóe sáng khủng khiếp quá".
32 seconds later the airship had disintegrated and 35 people were dead.
32 giây sau khi khí cầu tan thành nhiều mảnh vụn và 35 hành khách bị thiệt mạng.
The Age of the Airship was over.
Thời đại của khí cầu đã chấm dứt.
The Hindenburg was the last in a series of airships which had been developed over 40 years in both Europe and the United States.
Chiếc Hindenbursg là chiếc cuối cùng của một loại khí cầu đã được phát triển trên 40 năm ở cả Châu Âu và Mỹ.
They were designed to carry passengers and cargo over long distances.
Chúng được thiết kế để chở hành khách và hàng hóa đi xa.
The Hindenburg could carry 50 passengers accommodated in 25 luxury cabins with all the amenities of a first class hotel.
Chiếc Hindenburg có thể chở 50 hành khách trong 25 ca-bin sang trọng với tất cả tiện nghi của một khách sạn hạng nhất.
All the cabins had hot and cold water and electric heating.
Tất cả các ca-bin đều có nước nóng, nước lạnh, và hệ thống sưởi bằng điện.
There was a dining-room, a bar and a lounge with a dance floor and a baby grand piano.
Có một phòng ăn, một quầy rượu và một phòng khách lớn có sàn nhảy và một đàn dương cầm loại nhỏ.
The Hindenburg had been built to compete with the great luxury transatlantic liners.
Chiếc Hindenburg đã được chế tạo để cạnh tranh với những chiếc tàu chở khách lớn, sang trọng vượt Đại Tây Dương.
It was 245 metres long with a diameter of 41 metres.
Khí cầu này dài 245 m, có đường kính 41 m.
It could cruise at a speed of 125 km/h, and was able to cross the Atlantic in less than half the time of a liner.
Nó có thể bay với tốc độ 125 km/giờ và có khả năng vượt Đại Tây Dương khoảng phân nửa thời gian của một tàu chở khách.
By 1937 it had carried 1000 passengers safely and had even transported circus animals and cars.
Tới năm 1937 nó đã chở 1.000 hành khách an toàn và còn chở cả thú của gánh xiếc và xe hơi.
Its sister ship, the Graf Zeppenlin, had flown one and a half million kilometres and it had carried 13,100 passengers without incident.
Khí cầu cùng đợt với nó, chiếc Graf Zeppenlin đã bay 1,5 triệu km, đã chở 13.100 hành khách mà không gặp sự cố gì cả.
The Hinderburg was filled with hydrogen, which is a highly flammable gas, and every safety precaution had been taken to prevent accidents.
Chiếc Hindenberg chứa đầy khí hydrogen, một loại khí rất dễ cháy và người ta đã áp dụng mọi biện pháp an toàn để tránh tai nạn.
It had a smoking room which was pressurized in order to prevent gas from ever entering it.
Khí cầu có một phòng hút thuốc dùng áp suất ngăn không cho khí bên ngoài lọt vào.
The cigarette lighters were chained to the tables and both passengers and crew were searched for matches before entering the ship.
Các bật lửa đều được xích vào những chiếc bàn và cả hành khách lẫn phi hành đoàn đều bị lục soát kỹ trước khi lên khí cầu để tránh trường hợp mang theo diêm quẹt.
Special materials, which was used in the construction of the airship, had been chosen to minimize the possibiltiy of accidental sparks, which might cause an explosion.
Các vật liệu đặc biệt được dùng để chế tạo khí cầu đã được chọn để giảm đến mức tối thiểu những tia lửa tình cờ, có thể gây ra vụ nổ.
Nobody knows the exact cause of the Hindenburg disaster.
Không ai biết đích xác nguyên nhân của thảm họa Hindenburg.
Sabotage had been suggested, but experts at the time believed that it was caused by leaking gas which was ignited by static electricity.
Người ta đã nghĩ tới lý do phá hoại nhưng các nhà chuyên môn thời đó tin rằng vụ nổ là do rò khí rồi phát hỏa bởi tĩnh điện.
It had been waiting to land for three hours because of heavy thunderstorms.
Khí cầu đã chờ đáp xuống trong 3 tiếng đồng hồ vì những cơn dông dữ dội có sét.
The explosion happened just as the first mooring rope, which was wet, touched the ground.
Vụ nổ xảy ra ngay khi sợi thừng đầu tiên neo khí cầu lúc đó bị ướt, chạm đất.
Observers saw the first flames appear near the tail, and they began to spread quickly along the hull.
Các nhà quan sát thấy những ngọn lửa đầu tiên xuất hiện gần đuôi khí cầu và chúng bắt đầu lan ra nhanh chóng dọc theo thân tàu.
There were a number of flashes as the hydrogen-filled compartments exploded.
Có nhiều chớp sáng khi các khoang chứa đầy khí hydrogen phát nổ.
The airship sank to the ground.
Khí cầu rơi xuống đất.
The most surprising thing is that 62 people managed to escape.
Điều ngạc nhiên nhất là có 62 người đã thoát ra được.
The fatalities were highest among the crew, many of whom were working deep inside the airship.
Số tử vong cao nhất là nhóm phi hành đoàn, nhiều người trong số đó đang làm việc sâu bên trong khí cầu.
After the Hindenburg disaster, all airships were grounded and, until recently, they have never been seriously considered as a commercial proposition.
Sau thảm họa Hindenburg tất cả các khí cầu đều nằm ụ và cho tới thời gian gần đây, người ta vẫn không bao giờ thực sự xem chúng như một đề xuất mang tính thương mại.
Học câu