Học nghe

Thuộc: 10 - Chưa thuộc: 20
Now, 006. I want you to look at these pictures carefully.
Nào, 006. Tôi muốn cậu nhìn những bức ảnh này cho kỹ.
This could be the most important mission of your life.
Đây có thể là nhiệm vụ quan trọng nhất trong cộc đời cậu đấy.
At last we've got the chance to break the biggest crime syndicate in the world — SMASH.
Cuối cùng chúng ta cũng có cơ hội đập tan tổ chức tội phạm lớn nhất thế giới — SMASH.
Look at the man in the middle.
Nhìn người đàn ông ở giữa đi.
He's the one we've been after for years.
Hắn là kẻ ta đã theo đuôi từ mấy năm nay.
Who is he?
Hắn là ai?
We think he's the one that controls SMASH.
Chúng tôi nghĩ hắn là một trong những kẻ điều khiển SMASH.
He's certainly the one that ordered the murder of 003, the one that planned the hijacking of the jumbo jet full of world leaders,
Hắn ta chắc chắn là kẻ đã ra lệnh ám sát 003, người đã lên kế hoạch cướp chiếc máy bay phản lực chờ toàn các lãnh đạo thế giới
and he organizes the biggest drug-smuggling operation in the world.
và hắn ta còn tổ chức đường dây buôn lậu ma tuý lớn nhất thế giới.
Do we know his name?
Ta biết tên hắn chứ?
We know some of them.
Ta biết một vài trong số chúng.
Otto Krugerand, that's the name he uses in legitimate business.
Otto Krugerand, đó là tên hắn ta dùng cho những hoạt động kinh doanh hợp pháp.
Dr Nada, that is the name he was using in Vienna last year.
Tiến sĩ Nada, Đó là tên hắn dùng ở Vienna năm ngoái.
John Smith, that's the signature he left in a hotel register in Bangkok.
John Smith, đó là tên hắn ký khi đăng ký phòng khách sạn ở Bangkok.
Who's the gorilla standing behind him?
Cái con gorilla đứng sau hắn là ai vậy?
Ah, Slojob. He's the bodyguard who travels everywhere with Krugerand, and the only person he trusts.
Ah, Slojob. Đó là vệ sĩ đi khắp nơi cùng Krugerand, cũng là người duy nhất hắn tin tưởng.
He's an expert assassin.
Hắn là một sát thủ lão luyện.
He's the one who fed 004 to the crocodiles.
Hắn là kẻ đem 004 cho cá sấu ăn.
How charming! What about the woman?
Thật quyến rũ! Còn người phụ nữ thì sao?
Don't you recognize her?
Cậu không nhận ra ả à?
No, I've never seen her before.
Không, tôi chưa thấy cô ta bao giờ.
You would have recognize her, if she hadn't had plastic surgery, and dyed her hair.
Cậu sẽ nhận ra cô ta thôi, nếu cô ả không từng phẫu thuật thẩm mỹ, và nhuộm tóc.
Think back to Beirut.
Nhớ lại vụ Beirut đi.
Not Heidi Schwartz! She's the one who arranged the pipeline explosion, and then vanished into thin air!
Không phải Heidi Schwartz chứ! Ả ta là người dàn xếp vụ nổ ống dẫn, và rồi biến mất như thế bốc hơi!
She's also Krugerand's wife, and the only pilot he allows to fly his private plane.
Ả ta cũng là vợ của Krugerand, và là phi công duy nhất gã đồng ý cho điều khiển chiếc máy bay tư nhân của gã.
Who's the little guy wearing thick glasses?
Gã nhỏ người mang gọng kính dày kia là ai?
That's Professor Beratski, the mad scientist who defected from Moldania.
Đó là Giáo sư Beratski, nhà khoa học điên đã manh tật từ Moldania.
He's an expert on laser technology, and the first man who's been able to perfect a space laser weapon.
Ông ta là chuyên gia về công nghệ laze, và là người đàn ông đầu tiên có khả năng hoàn thiện một vũ khí laze không gian.
Krugerand is planning to build a private space-rocket which could put a satellite into orbit.
Krugerand đang lên kế hoạch xây dựng một tên lửa không gian cá nhân có thể đặt một vệ tinh nhân tạo vào quỹ đạo.
Do you understand the importance of this, 006?
Cậu có hiểu tầm quan trọng của vấn đề không, 006?
If they got a laser weapon into space, they could hold the world to ransom.
Nếu chúng mang vũ khí laze vào không gian, hoà bình thế giứoi sẽ bị đe doạ.
That's something which must not happen, 006!
Đó là thứ không thể xảy ra được, 006!
Take a look at this picture, 006.
Nhìn bức ảnh này đi, 006.
It's an oil-rig.
Đó là một dàn khoan dầu.
It looks like it, doesn't it?
Trông có vẻ thế phải không?
It belongs to Krugerand's oil company.
Nó thuộc về công ty dầu của Krugerand.
It's a rig that's supposed to be drilling for oil in the Indian Ocean.
Đó là một giàn khoan đáng lẽ là để khoan dầu ở Ấn Độ Dương.
Below it, there's a vast undersea complex.
Bên dưới nó, lại là một khu phức hợp lớn dưới lòng biển.
The superstructure looks odd.
Kết cấu phần trên nhìn lạ thật.
In fact it conceals the launch-pad they're going to use for the Rocket.
Trong thực tế, nó che khuất bệ phóng mà chúng sẽ sử dụng cho quả tên lưả.
That must be a radar scanner, there.
Đó hẳn là một máy quét radar, chỗ đó.
Yes. It's the scanner they'll use to track the rocket, but they can also see anything that tries to get near the rig.
Đúng. Đó là chiếc máy quét chúng dùng để theo dấu quả tên lửa, nhưng chúng cũng có thể thấy bất cứ thứ gì tới gần giàn khoan.
It's going to be very difficult to get you in, 006.
Sẽ rất khó để cậu vào được bên trong, 006.
There's a helicopter pad.
Có một sân đậu trực thăng.
We think that would be too dangerous.
Chúng tôi nghĩ như vậy quá nguy hiểm.
Look at the helicopter closely.
Nhìn kỹ chiếc trực thăng đi.
It carries air-to-air missiles which could destroy any aircraft approaching the rig.
Nó mang theo những vật phóng không đối không có thể phá huỷ bất kỳ thiết bị bay nào tiếp cận giàn khoan.
How are we going to do it then?
Vậy chúng ta sẽ làm thế nào?
Go home and pack. We're flying you to Scotland tonight for two weeks of intensive mini-submarine training.
Về nhà và xếp đồ đi. Cậu sẽ bay tới Scotland đêm nay và ở đó 2 tuần để được huấn luyện chuyên sâu về tàu ngầm mini.
That sounds fun!
Nghe vui thật!
And 006, try not to be late for the plane this time.
Và 006 này, Lần này cố gắng đừng để muộn giờ bay nữa.
Học câu