Học nghe

Thuộc: 10 - Chưa thuộc: 20
The "Mary Celeste" was built in 1861 in Nova Scotia, Canada, as a cargo-carrying sailing-ship.
Con tàu "Mary Celeste" được đóng vào năm 1861 ở Nova Scotia, Canada, là tàu buồm để chở hàng.
When it was launched, it was given the name "The Amazon".
Khi nó được hạ thủy, người ta đặt tên cho nó là tàu "Amazon".
It was not a lucky ship.
Nó là một con tàu kém may mắn.
The first captain died a few days after it was registered, and on its first voyage in 1862 it was badly damaged in a collision.
Thuyền trưởng đầu tiên chết chỉ vài ngày sau khi nó được đăng ký, và trong chuyến hải trình đầu tiên của nó vào năm 1862 nó đã bị hư hại nặng sau một vụ đụng tàu.
While it was being repaired in port, it caught fire.
Trong khi đang được sửa chữa ở bến cảng, nó phát cháy.
In 1863 it crossed the Atlantic for the first time, and in the English Channel it collided with another ship which sank.
Năm 1863 nó vượt Đại Tây Dương lần đầu tiên và ở eo biển Manche nó va vào một chiếc tàu khác làm chiếc này bị chìm.
"The Amazon" was badly damaged itself.
Chiếc "Amazon" cũng bị hư hại nặng.
Four years later, in 1867, it ran aground on Cape Breton Island, off the Canadian coast.
Bốn năm sau đó, vào năm 1867 nó mắc cạn ở đảo Cape Breton, ngoài khơi bờ biển Canada.
The ship was almost completely wrecked and had to be rebuilt.
Con tàu hầu như bị tan vỡ và phải được đóng lại.
It was then sold and the name was changed to the "Mary Celeste".
Sau đó nó được đem bán và người ta đổi tên nó thành "Mary Celeste".
Sailors are very superstitious and dislike sailing on ships which have been unlucky or which have changed their names.
Các thủy thủ thì rất dị đoan và họ không thích làm việc trên những con tàu kém may mắn hoặc đã đổi tên.
Many sailors refused to sail on the "Mary Celeste".
Nhiều người từ chối đi trên tàu "Mary Celeste".
On November 5th 1872, the "Mary Celeste" left New York, carrying a cargo of commercial alcohol to Genoa in Italy.
Vào ngày 5 tháng 11 năm 1872, tàu "Mary Celeste" rời New York, chở cồn tới Genoa thuộc Itali.
There were eleven people on board, Captain Briggs, his wife and two-year-old daughter, and a crew of eight.
Có 11 người ở trên tàu, thuyền trưởng Briggs, vợ ông ta cùng đứa con gái 2 tuổi và thủy thủ đoàn gồm 8 người.
Briggs was an experienced captain, and a very religious man.
Briggs là một thuyền trưởng dạn dày kinh nghiệm và là một người rất sùng đạo.
In his cabin there was a harmonium, which was used for playing hymns.
Trong phòng ông ta có một cây đàn harmonium dùng để chơi các bài thánh ca.
A month later the "Mary Celeste" was seen by another ship, the "Dei Gratia", about halfway between the Azores and the Portuguese coast.
Một tháng sau, một chiếc tàu khác, chiếc "Dei Gratia" phát hiện ra chiếc "Mary Celeste" ở khoảng giữa quần đảo Azores và bờ biển Bồ Đào Nha.
Captain Moorhouse of the "Dei Gratia", a friend of captain Briggs, noticed that the ship was sailing strangely.
Thuyền trưởng Moorhouse của tàu "Dei Gratia", một người bạn của thuyền trưởng Briggs, nhận thấy chiếc "Mary Celeste" đang chạy một cách kỳ lạ.
When the "Mary Celeste", did not answer his signal, he decided to investigate.
Khi chiếc "Mary Celeste" không trả lời các tín hiệu của ông ta thì ông ta quyết định tìm hiểu.
He sent a small boat to find out what was wrong.
Ông ta phái một chiếc thuyền nhỏ đi xem chuyện gì đã xảy ra.
The "Mary Celeste" was completely deserted.
Tàu "Mary Celeste" hoàn toàn vắng lặng.
The only lifeboat was missing.
Chiếc xuồng cứu sinh duy nhất đã không còn nữa.
All the sails were up, and in good condition.
Tất cả buồm đều đang được giương lên, và vẫn còn tốt.
All the cargo was there.
Hàng hóa vẫn còn nguyên.
The ship had obviously been through storms.
Rõ ràng là con tàu đã qua một cơn bảo.
The glass on the compass was broken.
Kính trên mặt la bàn bị vỡ.
The windows of the desk cabins had been covered with wooden planks.
Cửa sổ các phòng trên boong đều bị chắn bằng các thanh gỗ.
There was a metre of water in the cargo hold, which was not enough to be dangerous.
Trong hầm đựng hàng có một thước nước, không đến nỗi nguy hiểm.
The water pumps were working perfectly.
Các bơm nước vẫn còn đang hoạt động tốt.
There was enough food for six months, and plenty of fresh water.
Còn đủ lương thực cho sáu tháng nữa, và còn nhiều nước ngọt.
All the crew's personal possessions (clothes, boots, pipes and tobacco etc.) were on board.
Tất cả đồ dùng cá nhân của thủy thủ đoàn (áo quần, giày ống, tẩu thuốc và thuốc sợi v.v...) đều còn trên tàu.
There were toys on the captain's bed.
Có một số đồ chơi của trẻ con trên giường của thuyền trưởng.
There was food and drink on the cabin table.
Còn đồ ăn đồ uống trên bàn trong phòng.
Only the navigation instruments and ship's papers were missing.
Chỉ có các thiết bị định hướng và giấy tờ về con tàu là bị mất.
The last entry in the ship's log-book had been made eleven days earlier, 1000 km west, but the ship had continued in a straight line.
Dòng ghi cuối cùng trong nhật ký hải trình của con tàu đã được ghi 11 ngày trước đó, cách đó 1.000 km về phía tây, nhưng con tàu đã chạy theo một đường thẳng.
The fore-hatch was found open.
Nắp hầm chứa hàng phía mũi tàu đang mở.
There were two deep marks on the bows, near the water-line.
Có 2 vết cắt sâu ở mũi tàu, gần đường mớn nước.
There was a deep cut on the ship's rail, made by an axe.
Có một vết chém sâu dọc thành tàu, vết do rìu chém.
There were old brown bloodstains on the deck, and on the captain's sword, which was in the cabin.
Trên boong tàu có nhiều vệt máu khô sẫm, và trên thanh kiếm của thuyền trưởng, ở trong phòng cũng có vết máu.
Captain Moorhouse put some sailors on the "Mary Celeste", who sailed it to Portugal.
Thuyền trưởng Moorhouse phái một vài thủy thủ lên tàu "Mary Celeste" và lái nó về Bồ Đào Nha.
There was a long official investigation, but the story of what had happened on the ship,
Người ta đã tiến hành một cuộc điều tra chính thức rất lâu dài về vụ này, nhưng mhững cái gì đã xảy ra trên con tàu,
and what had happened to the crew, till remains a mystery.
và cho thủy thủ đoàn vẫn còn là một bí ẩn.
Captain Moorhouse and his crew were given the salvage money for bringing the ship to port.
Thuyền trưởng Moorhouse và thủy thủ đoàn của ông ta đã được thưởng tiền cứu hộ vì đã đem con tàu về cảng.
Many explanations have been suggested but none of them have ever been proved.
Nhiều lời giải thích đã được đưa ra, nhưng chưa có cái nào đã được xác minh cả.
Học câu